Tiểu Đệ
Nhân viết bài các nghệ sĩ đã qua đời, xin tiếp nối : Tìm hiểu sự lâm chung cho đến mai táng cúng kiến như thế nào?
Xin mạo muội trích dẫn theo dĩa thuyết giảng của Hòa Thượng Thích Giác Hạnh trong khóa tu 54 Phật thất tại chùa Hoằng Pháp, A Di Đà (dĩa VCD Thuốc
Hay), thì khi người Lâm Chung, nếu chúng ta rờ nơi vào thân người đó, thấy nóng chổ nào thì thân trung ấm vãng sanh nơi đó, nếu nóng ở đỉnh đầu là bậc thánh, ở mặt là cỏi trời, ở ngực là trở lại
làm người, ở bụng là ngạ quỉ, ở đầu gối là bàn sanh, ở lòng bàn chân là địa ngục.
Lâm mạng (hấp hối) 临 命
Chung thời (chết) 终 时 Lâm chung 临 终
Giữ chư thánh chúng hiện tại kỳ tiền
与 诸 圣 众 现 在 其 前
Thị nhân chung thời tâm bất điên đảo
视 人 终 时 心 不 颠 倒
tức đắc vãng sanh
即 得 往 生
Thánh đảnh nhản sanh thiên
圣 等 眼 生 天
Nhơn tâm ngạ quỉ phúc
人 心 饿 鬼 福
Bàn sanh tất cước ly
旁 生 必 脚 离
Địa ngục khước tâm xuất
地 獄 却 心 出
Cuộc đời khó ai biết được tương lai, để chọn sự sống được sung túc thoải mái về vật chất lẫn tinh thần mãi mãi hết được. Bởi vì, nhân loại bị chi
phối các vận hành Trời Đất tạo nên trong thời gian nào đó, vì thế mọi người không thể thoát khỏi luân hồi : Sanh, Lão, Bịnh và Tử.
Do vậy, đã làm con người thì có sanh có tử trong kiếp con người không một ai tránh khỏi, khi Cha Me sanh ta ra mỗi người mỗi gia cảnh, mỗi phương
cách khác nhau, đều do căn nghiệp của ta cùng tạo hóa sắp bày mà ra, để rồi khi lìa đời cũng không một ai giống nhau và mọi người đang sanh sống không ai không biết sẽ có ngày chết, ngưởi chết
sớm vì sống nhỏ tuổi, ngưởi chết già vì sống thọ lớn tuổi.
Hơn nữa, chúng ta đã biết cái chết sẽ làm cho gia đình người chết phải đau khổ tột cùng, vì mất một người thân. Từ đó, tất cả đời sống chúng ta có
được hiện tại chỉ là tạm bợ kể cả bản thân, chớ không phải của riêng chúng ta mãi mãi. Nếu con người biết tìm đường tu tập học Phật Pháp để thoát khỏi luân hồi sanh tử vĩnh viễn, thì sẽ có ích
lợi vô cùng.
Nhân đây, xin trích dẫn dành cho người lúc lâm chung, nhưng khi chung mạng không thể vãng sanh Tây phương cực lạc như sau :
1.- Có hạng người niệm Phật lúc bình thường công phu niệm Phật chưa được thuần thục, đến lúc lâm chung tuy có tâm nguyện cầu sanh Tây phương cực
lạc, nhưng vì bệnh nặng không thể nhất tâm niệm Phật, lại không được trợ duyên niệm Phật và còn gặp cảnh bà con bi ai khóc lóc gây chướng ngại, để rồi khi chung mạng không thể vãng sanh Tây
phương cực lạc được, mà phải đọa lạc vào cảnh giới khổ đau.
2.- Có hạng người niệm Phật lúc bình thường công phu niệm Phật chưa được thuần thục, đến lúc lâm chung lại được trợ duyên niệm Phật rất tốt. Nhưng
người này tâm vốn điên đảo lại tham luyến tình ái thế gian chí đến đắm trước vợ con, tài sản... không chịu nhất tâm nguyện cầu sanh Tây phương cực lạc, để rồi khi chung mạng không thể vãng sanh
Tây phương cực lạc, mà phải trở lại đọa lạc vào cảnh giới sanh tử luân hồi.
3.- Có hạng người niệm Phật lúc bình thường, nhưng chỉ chuyên cầu nhà cửa khang trang, mạng sống an vui lâu dài, đến khi lâm chung chỉ lo sợ chết,
chỉ mong cầu bệnh mau thuyên giảm, nhưng không phát tâm cầu sanh Tây phương cực lạc, để rồi khi chung mạng không thể vãng sanh Tây phương cực lạc, sau cùng sẽ tùy theo nghiệp nhân phiền não ác
độc ra đi quyết đọa lạc trong tam đồ ác đạo.
Ngoài ra, xin trích dẫn dành cho người lúc lâm chung, nhưng khi chung mạng được vãng sanh Tây phương cực lạc như sau :
Riêng đối với người sắp lâm chung, các người trong gia quyến biết nhất tâm niệm Phật để trợ niệm cùng tiễn đưa thần thức người chết được vãng sanh,
lại không bi ai khóc lóc để cho thần thức người mạng chung niệm Phật nhất tâm đi trên con đường cầu vãng sanh Tây phương cực lạc, đem đến kết quả tốt đẹp như ý muốn, bởi vì, thần thức người sắp
lâm chung không bị xáo trộn để đưa đến đọa lạc vào địa ngục hay đọa vào các đường ác ngạ quỷ, súc sanh trong chốn đau khổ.
Hơn nữa, có người lúc bình thường không có lòng tín nguyện niệm Phật cầu vãng sanh, nhưng khi lâm chung lại gặp được thiện tri thức khai
thị
và thân nhân trong gia quyến không bi ai khóc lóc, nhứt tâm niệm Phật để trợ niệm, khiến cho tâm người lâm chung hoan hỉ cầu vãng sanh Tây phương
cực lạc được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn đúng theo bốn mươi tám đại nguyện của Ngài.
Nhân đây, xin trích dẫn 48 đại nguyện của Đức Phật A Di Đà sau đây :
http://www.tangthuphathoc.net/tinhdo/48loinguyenphatadida-dichtho.htm
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà
Dịch thơ - 1995
Văn vần
Thích Minh Phát
đã được Chùa Khánh Anh Paris đăng trong Nghi Thức Tụng Niệm từ trang 159 đến trang 172.
NGUYỀN THỨ NHỨT : Tôi thành Phật được,
Thì nước tôi là nước tịnh thanh,
Ngục hình ngã quỉ, súc sanh,
Thảy đều chẳng có sanh thành nơi đây.
NGUYỀN THỨ HAI : Nước này tịnh giới,
Đàn bà cùng con gái tịch nhiên.
Những người trong các nhơn, thiên,
Cùng loại cầm thú cần chuyên tu hành.
Thảy đều đặng hoá sanh thọ cảm,
Thất bảo trì cửu phẩm liên hoa.
NGUYỀNTHỨ BA : dân chúng Phật Đà,
Khi cần ăn uống, hoá ra sẵn sàng.
Bát thất bửu, bỉ bàng đựng lắm,
Trăm món ngon khỏi sắm ở đâu.
Ăn rồi khí dụng liền thâu,
Không cần phải rửa, phải lau nhọc nhằn.
NGUYỀN THỨ TƯ : nhân dân trong nước,
Muốn áo quần, khăn, lược, mão, giày,
Thảy đều hoá đủ sẵn bày,
Khỏi mua khỏi giặt, khỏi may cực lòng.
NGUYỀN THỨ NĂM : giáp vòng địa lợi,
Từ đất bằng lên tới hư không.
Thảy đều lầu các điện cung,
Cùng là cây trái ao sông cửa nhà.
Các thứ ấy đều là trân bửu,
Cùng bá thiên hoa báu hương thơm.
Hợp nhau thành tạo kết đơm,
Trau dồi trang sức, cho làm phiền ba.
Mùi hương ấy xông ra khắp đủ,
Cả mười phương hưởng thụ cấp kỳ.
Chúng sanh hạnh Nguyện chuyên trì,
Tin và tưởng Phật, đến thì vãng sanh.
NGUYỀN THỨ SÁU : dân lành quốc độ.
Thương kính nhau quí tợ ruột rà.
Không lời qua lại bất hoà,
Không ganh không ghét, sanh ra tranh giành.
NGUYỀN THỨ BẢY : dân sanh trong nước,
Không có lòng uế trược dâm ô.
Cũng không có tánh tục thô,
Cùng là nóng giận, hồ đồ, ngu si,
NGUYỀN THỨ TÁM : chuyên trì thiện niệm,
Cứ đường ngay, tiệm tiệm lướt đi.
Nếu ai muốn nói chuyện gì,
Người kia hiểu ý tức thì khỏi phân.
NGUYỀN THỨ CHÍN : chúng dân từ thiện,
Tai chẳng nghe những chuyện không lành.
Có đâu sự ác tự hành,
Mấy điều nghiệp chướng đã thành vô danh.
NGUYỀN THỨ MƯỜI : chúng sanh đều ví,
Huyễn thân là mộng mị mà thôi
Vậy nên lòng chẳng nhiễm đời,
Tánh không tham muốn, khắp nơi vui cười.
NGUYỀN MƯỜI MỘT : tiên, người, tuy khác
Hình dung đồng một sắc vàng y.
Mặt mày nghiêm chỉnh phương phi,
Trong ngần, đẹp đẽ, không chi ví bằng.
NGUYỀN MƯỜI HAI : mười phương thế giới,
Thiên, nhơn, cùng các loài súc sanh.
Hoá thân về cõi lạc thành,
Chứng ngôi duyên giác thinh danh trùng trùng,
Ngồi Thiền toạ, chăm lòng tịch tịnh,
Hiệp cùng nhau tính tuổi it nhiều.
Chẳng hề biết đặng bao nhiêu
Ngàn, muôn, ức kiếp số nhiều khó phân.
NGUYỀN MƯỜI BA : thiên, nhơn, trên giải.
Hiệp cùng nhau đếm mãi dân cư.
Không hề rõ biết số dư,
Tại An Dưỡng Quốc nhiều như cát Hằng.
NGUYỀN MƯỜI BỐN : dân hằng quốc độ,
Thảy thảy đồng trường thọ miên miên.
Không sao biết đặng số niên,
Sống lâu vô lượng, vô biên kiếp đời.
NGUYỀN MƯỜI LĂM : dân thời thanh tịnh,
Trụ vào ngôi chí tánh tự nhiên.
Ly chư loạn tưởng đảo điên,
Đắc vô phân biệt chứng duyên Niết Bàn.
NGUYỀN MƯỜI SÁU : Lạc bang dân chúng,
Vui vẻ mà thọ dụng đủ đều.
Thảy đồng với các Tỳ kheo,
Chứng phần Vô Lậu chẳng theo sự đời.
NGUYỀN MƯỜI BẢY : khi tôi thành Phật.
Sẽ giảng kinh thuyết thật độ sanh.
Làm cho sở Nguyện đắc thành,
Công tôi giảng đạo trọn lành hơn ai.
NGUYỀN MƯỜI TÁM : hoá thai cõi dục.
Người người đều đắc Túc Mạng thông.
Rõ điều tiền kiếp xa trông,
Hằng hà sa kiếp biết đồng kim sanh.
NGUYỀN MƯỜI CHÍN : chúng sanh ức vạn,
Đắc thần thông thiên nhãn tịnh quang.
Thấy toàn vũ trụ mười phương.
Trùng trùng duyên khởi thế gian tỏ tường.
NGUYỀN HAI MƯƠI : Tây phương dân chúng,
Thiên Nhĩ Thông đắc dụng nghe xa.
Những lời phát Nguyền bủa ra.
Của trăm ngàn ức Phật Đà khẩu tuyên.
NGUYỀN HĂM MỐT : nhơn thiên trong nước
Tha Tâm Thông biết được chẳng sai,
Những điều tâm niệm mỗi loài,
Thập phương thế giới cầu ngoài tánh linh,
NGUYỀN HĂM HAI : chúng sanh quốc độ,
Thần Túc Thông đắc ngộ dong chơi,
Bao hàm thế giới nơi nơi,
Vượt qua một mạch, mau thời hơn bay,
NGUYỀN HĂM BA : khi tôi thành Phật,
Danh hiệu con tỏ thật mười phương.
Phật và đại chúng tán dương,
Còn dân trong nước lai vương tôi hoài.
Thiên, nhơn với các loài thú vật,
Niệm danh con cho thật chí thành.
Sanh lòng vui vẻ hiền lành,
Lâm chung sẽ đặng hoá sanh sen vàng.
NGUYỀN HĂM BỐN : ánh quang minh chiếu,
Nơi đầu con tuyệt diệu rõ ràng.
Mặt trời cùng ánh mặt trăng,
Tuy là sáng tỏ chẳng bằng Phật quang.
NGUYỀN HĂM LĂM : hào quang tôi chói,
Khắp cùng nơi ngõ tối khúc quanh
Thiên, nhơn cùng các súc sanh,
Thấy liền đặng khởi lòng thành qui y.
NGUYỀN HĂM SÁU : bất kỳ nhơn, thú,
Trong thập phương vũ trụ vân vân.
Nhờ hào quang chiếu đến thân,
Từ hoà tâm tánh hơn dân cõi trời.
NGUYỀN HĂM BẢY : Tiên, Người, phát ý
Tâm Bồ đề trì chí giới trai.
Lục Ba La Mật quảng khai,
Làm nhiều công đức chẳng sai một thì,
Khi thọ mạng chí kỳ viên mãn,
Có tôi và các hạng Tăng lành.
Phóng quang tiếp dẫn vãng sanh,
Đặng làm Bồ tát tại thành Lạc ban.
NGUYỀN HĂM TÁM : Thiên, Nhơn vũ trụ,
Nghe danh tôi sắm đủ bỉ bàng,
Hương hoa đăng chúc huy hoàng,
Tràng phan, bảo cái cúng dường Như Lai.
Tạo Tháp, Tự, trì trai thanh tịnh,
Làm việc lành tâm định tưởng tôi.
Tưởng luôn trọn một ngày thôi,
Chắc là sẽ đặng nước tôi về liền.
NGUYỀN HĂM CHÍN : Nhơn, Thiên mười cõi,
Nếu dốc lòng ra khỏi bến mê.
Hiệu tôi thập niệm chuyên bề,
Lâm chung sẽ đặng sanh về Lạc bang
Trừ những kẻ hung tàn hỗn tạp,
Cùng những người Phật pháp dễ khinh
Ai mang tội ấy vào mình,
A Tỳ địa ngục thọ hình chung thân.
NGUYỀN BA MƯƠI : Thiên, Nhơn cầm thú
Trong thập phương vũ trụ khôn lường.
Trước đà tạo tội thường thường
Sau nghe danh Phật tỏ tường cung khai.
Cầu sám hối, trì trai, giới sát,
Nguyền làm lành, nước Phật mông sanh.
Lâm chung sẽ đặng công lành.
Khỏi tam đồ khổ hoá sanh liên đài.
NGUYỀN BA MỐT : Tiên, Người mười cảnh,
Nghe danh tôi đảnh lễ theo về.
Vui mà tu hạnh Bồ đề,
Người người cung kính, kiêng nề tán dương
NGUYỀN BA HAI : thập phương thế giới,
Những đàn bà con gái chán đời.
Phát tâm tín niệm danh tôi,
Thân sau tránh khỏi phục hồi nữ nhơn.
NGUYỀN BA BA : chúng dân mới tới,
Quả vô sanh bất thối chứng liền
Lại còn quả Phật đoàn viên,
Ngoại trừ những vị bổn nguyền độ sanh
Tôi sẽ giúp cho thành sở mộ.
Tới tha phương tế độ hàm linh.
Hạnh tu Bồ tát rất tinh,
Lại còn thấy sức oai linh hộ truyền.
Cho người ấy tinh chuyên tiến bộ,
Cùng chúng sanh tín thọ pháp huyền
Bồ đề, tịch diệt, Phổ Hiền,
Tấn thêm Tối thắng cần chuyên thi hành.
NGUYỀN BA BỐN : dân lành trong nước
Độ chúng sanh, dùng đủ mọi phương.
Ước nguyền sẽ đặng như lòng,
Bao nhiêu ác nghiệp ba đường khỏi mang.
NGUYỀN BA LĂM : các hàng Bồ tát,
Muốn cúng dường chư Phật đâu đâu,
Hoa hương, anh lạc, trân châu,
Liền đi khắp đủ, vừa hầu bữa ăn.
NGUYỀN BA SÁU : muôn ngàn báu vật,
Muốn cúng dường chư Phật Thánh Hiền,
Ước ra thì có đủ liền,
Cúng dâng khắp cả về miền chưa trưa.
NGUYỀN BA BẢY : ai vừa đọc tụng,
Hoặc thọ trì phụng cúng chư kinh,
Đặng tài biện luận thông minh,
Lại thêm Bát Nhã, trí lành cao siêu.
NGUYỀN BA TÁM : giảng điều pháp lý,
Đủ viên thông, đầy trí huệ tâm,
Nghĩa kinh cùng với Pháp âm
Dẫu rằng vi diệu cao thâm đều cùng.
NGUYỀN BA CHÍN : quốc trung Bồ tát,
Thảy thảy đồng dõng bạt kiên cần.
Mỗi người đều đặng kim thân,
Ba hai tướng tốt đủ phân sắc màu.
Thuyết các Pháp gồm thâu đạo Phật,
Cũng in như chư Phật đương thời.
NGUYỀN BỐN MƯƠI : Nước của tôi.
Hoàn toàn tinh sạch, chiếu soi một màu.
Chư Bồ tát ví như muốn thấy,
Cõi Phật nào là thấy chằng ngoa,
Dòm trong bửu thọ hiện ra,
Cảnh nào Phật nấy như là soi gương.
NGUYỀN BỐN MỐT : mọi đường công đức,
Bồ tát nào chưa được hoàn toàn,
Đặng nghe, đặng thấy đạo tràng,
Bề cao cho đến bốn ngàn Na do.
NGUYỀN BỐN HAI : các đồ nhật dụng,
Quốc độ tôi thiệt đúng tinh minh.
Chói ngời hình sắc đẹp xinh,
Dầu thiên nhãn chẳng nhìn hình đặng đâu.
NGUYỀN BỐN BA : ai ai trong nước.
Chỉ mong cầu nghe được Pháp, Kinh.
Tự nhiên sở Nguyện đắc thành,
Không chờ mời thỉnh thường tình thế gian.
NGUYỀN BỐN BỐN : Thanh Văn, Duyên Giác,
Trong nước tôi đều đắc oai thần.
Hào quang tỏ rạng vô ngần,
Biện tài thuyết pháp ngang phần Pháp Vương.
NGUYỀN BỐN LĂM : tha phương Bồ tát,
Nghe danh tôi, tấn phát phụng hành
Thảy đều đặng phép tịnh thanh,
Định thần giải thoát phước lành thưởng ban.
Như ai muốn cúng dường Phật, Pháp
Trong một đời đi khắp Hà sa.
Tuy là đường sá rất xa.
Định thân không lạc Thiền na chẳng lìa.
NGUYỀN BỐN SÁU : Chư tôn Bồ tát,
Ở tha phương nghe đạt danh tôi,
Quy y tinh tấn vừa rồi,
Định thiền bình đẳng phục hồi bổn nguyên,
Đắc pháp Nhẫn lên ngôi Chánh giác
Đặng thấy thương các bậc Như Lai.
NGUYỀN BỐN BẢY : như vầy,
Tha phương Bồ tát về đầy nước tôi.
Hướng đạo cả tâm hồi bất nhị ,
Chẳng thối lui địa vị cao sâu.
NGUYỀN BỐN TÁM : báu mầu.
Tha phương Bồ tát khấu đầu quy y.
Chư vị ấy đắc kỳ sở Nguyện,
Nhất, Nhị, Tam, Nhẫn Thiện Pháp Vương.
Pháp môn của Phật khôn lường,
Thập phương vững trụ dẫn đường chúng sinh
Khi Pháp Tạng Nguyện xong bốn tám,
Cõi tam thiên sáu món rung rinh.
Hương hoa đổ xuống đầy thành
Hư không phát tiếng chắc thành Như lai.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
http://www.tangthuphathoc.net/tinhdo/48dainguyencuaducphatadida.htm
48 Đại Nguyện Của Đức Phật A Di Đà
Trích Trong Kinh Vô Lượng Thọ
1. Lúc tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
2. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng lấy ngôi chán giác.
3. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
4. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
5. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy
ngôi chánh giác.
6. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy
ngôi chánh giác.
7. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha chư Phật và chẳng
thọ trì hết, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
8. Giả sư khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do
tha cõi nước, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
9. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha nước Phật thì tôi
chẳng lấy ngôi chánh giác.
10. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
11. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
12. Lúc tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác.
13. Lúc tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
14. Lúc tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Ðại Thiên đều thành bực Duyên Giác
cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết được số lượng ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
15. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy thì tôi
chẳng lấy ngôi chánh giác.
16. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi mà cón nghe danh từ bất thiện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
17. Lúc tôi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
18. Lúc tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi
chánh giác.
19. Lúc tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát tâm Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung,
tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
20. Lúc tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh
về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
21. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
22. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa độ,
vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh
chơn vô thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
23. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng ức na do
tha cõi nước thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
24. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ý muốn thì tôi
chẳng lấy ngôi chánh giác.
25. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói nhứt thiết trí thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
26. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng được thân Kim Cương Na la diên thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
27. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt lạ lùng vi tột diệu không
ai lường biết được, dầu là có thiên nhãn mà biện biệt được danh số ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
28. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu sáng vô lượng cao bốn trăm muôn
dặm thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
29. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác.
30. Lúc tôi thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
31. Lúc tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện
hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
32. Lúc tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước tôi đều dùng vô lượng
châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương. Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như vậy
thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
33. Lúc tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu đến thân, thân họ nhu nhuyến
hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
34. Lúc tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà chẳng được Bồ Tát vô sanh pháp
nhẫn các thâm tổng trì thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
35. Lúc tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát tâm Bồ đề nhàm ghét thân
người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân người nữ lại thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
36. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghì thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi sau khi thọ chung thường tu phạm
hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
37. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm vóc gieo xuống đất cúi đầu vái
lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát thì được chư Thiên và người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
38. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như Phật khen ngợ tự nhiên mặc trên
thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
39.Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
40. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì liền được toại nguyện, đều được
soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt mình hiện rõ trong gương sáng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
41. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân còn thiếu xấu chẳng được
đầy đủ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
42. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải thoát tam muội, khoảng một lúc
phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
43. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý. Nếu không như vậy thì tôi chẳng
lấy ngôi chánh giác.
44. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ cội công đức. Nếu không như vậy
thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
45. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội, an trụ trong tam muội nầy đến
lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất cả chư Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
46. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên được nghe. Nếu không như vậy
thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
47. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi
chánh giác.
48. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ nhị nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, nơi
các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới
Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật
Nói tóm lại, Đức Phật A Di Ðà, với 48 đại nguyện, có công đức của Ngài rất rộng lớn, bởi do lòng đại bi đại nguyện lợi tha. Ngài đành bỏ tất cả ngôi
sang cao quí, nguyện tu hành khi thành Phật, ở trên một cảnh giới huy hoàng trang nghiêm, để tiếp độ chúng sanh. Trải qua một thời gian được kết quả, y báo, chánh báo xuất hiện rực rỡ như lời
Ngài đã thệ nguyện
Trở lại việc Tìm hiểu sự lâm chung cho đến mai táng cúng kiến như thế nào? Xin văn tắt ngắn gọn như sau :
Nếu gặp người đang bị bịnh nặng, trong tương lai sẽ lâm chung, thân nhân nên dọn dẹp giường bịnh cho khang trang và thay quần áo cho người bịnh thật
sạch sẽ, đặc biệt, đặt bàn có bông hoa cúng Phật, rồi cung thỉnh quý Ngài Tôn Đức Tăng Ni, (nếu có thêm ban hộ niệm càng tốt), để tụng kinh Cầu An và Sấm Hối cho người bịnh.
Ngoài ra, nên nhắc nhở người bịnh luôn luôn niệm : bởi vì, thời gian này sức khỏe rất yếu, chỉ có thể nghe kinh và không thể đọc kinh
được.
Trong thời gian người bịnh đang lâm chung, các thân nhân không nên bi ai khóc lóc, mà nhứt tâm cùng quý Tăng Ni, ban hộ niệm Chùa để tụng Lễ Vía A
Di Đà và kinh A Di Đà.
Nhân đây, xin trich dẫn tiêu biểu trong quyển Nghi Thức Tụng Niệm như
sau : Bạt nhứt thế nghiệp chướng căn bản đắc sanh Tịnh Độ Đà La Ni :
HỒI HƯỚNG VÃNG SANH
Nguyện sanh Cực Lạc cảnh Phương Tây, chín phẩm hoa Sen là Cha Mẹ, Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh, Bồ Tát bất thối là bạn hữu.
TỰ QUY Y và ĐÀNH LỄ
Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng.
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng trí tuệ như biển.
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.
HỒI HƯỚNG
Công đức sám hối khó nghĩ lường,
Vô biên thắng phước đều hồi hướng
Khắp nguyện chúng sanh trong pháp giới.
Đều được vãng sanh Cực Lạc
NGHI THỨC CẦU SIÊU
Nguyện tận hư không biến pháp giới, quá hiện vị lai chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trú Tam Bảo, tiếp độ hương linh vãng sanh Cực Lạc
Quốc.
Nguyện Ta bà Giáo chủ đại từ đại bi Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai hạ sanh Di Lạc tôn Phật, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Linh sơn Hội
Thượng Phật Bồ Tát, tiếp độ hương linh vãng sanh Cực Lạc Quốc.
Nguyện Tây phương Giáo chủ đại từ đại bi tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại hải chúng Bồ
Tát, tiếp độ hương linh vãng sanh Cực Lạc Quốc.
Quy mạng lễ A Di Đà Phật,
Ở phương tây thế giới an lành,
Con nay xin phát nguyện vãng sanh,
Cúi xin đức Từ Bi tiếp độ :
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc
Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn
Đạo Sư A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát...
Khi người bịnh đã lâm chung, thân nhân trong gia đình nên cẩn thận thăm dò thân thể người chết, đợi thấy chết hẳn mới tiến hành thủ tục tắm rửa thay
quần áo để tẩn liệm, thông thường đầu người chết quay vào nhà, hai chân đưa ra sân nhà, để người chết sẽ ra đi được chôn cất về hướng Tây tại nghĩa trang (địa) hay đem đi hỏa thiêu, không thể trở
lại nhà được.
Đó là, quan niệm người xưa ở Việt Nam, khi đất đai còn nhiều để chôn cất, xây lập nhà mồ rộng rãi, còn ngày nay, thì việc chôn cất vì đất đai rất
hạn hẹp, đôi khi chôn cất phải chồng lầu và có thời gian mướn hạn định, chớ không vĩnh cửu được.
Kế đến, làm tuần cúng kiến cho người chết 7 thất (tuần lễ) liên tục để cầu siêu hương hồn vong linh người quá vãng. Người xưa quan niệm khi người
lâm chung, thần thức sẽ xuất khỏi thân thể tùy theo nghiệp lực để đi đầu thai, có thể tức thời, cho đến tối đa 7 tuần lễ. Bởi vì, con người có Thất phách là 7 vía (ba hồn 7 vía). Một đặc điểm
dáng lưu ý, trên gương mặt mọi người đểu có có 7 khiếu là : 2 mắt, 1 miệng, 2 tai và 2 mũi, cho nên phải làm lễ 7 tuần thất.
Hơn nữa, chúng ta còn thấy con số 7 là con số tối đa của nguyên số thuộc thiên là số dương.
Do vậy, con số 7 tượng trưng cho sự sinh hóa cả vũ trụ, ngay cả sự sống chết của con người như lập đàn Dược Sư Thất Bảo để cầu an hay tổ chức thất
thất trai tuần (49 ngày) để cầu siêu cũng dùng đến nó. (kính xin quý bậc cao kiến bổ khuyết thêm cho đầy đủ hơn, chân thành cảm ơn)
Nhân nhắc đến người lâm chung tùy theo nghiệp lực để đi đầu thai tức thời, bởi vì, người viết đã xem dĩa VCD do giảng sư Hòa Thượng Thích Giác Hạnh,
một vị cao tăng danh tiếng đã thuyết giảng từ tốn, mạch lạc và rất rõ ràng, Ngài trọng kính quý vị Phật tử tham dự trong khóa tu Phật thất, kỳ 54 (27/04/2009) tại chùa Hoằng Pháp, không khác sinh
viên trong giảng đường của viện đại học có hàng ngàn sinh viên đến tham dự, xin trân trọng kính ngưỡng mộ và cảm ơn Ngài đã giải thích tường tận để học hỏi thêm : .
Một bằng chứng khác nữa, Sư cô Thích Nữ Hạnh Châu chùa Viên Giác Đức Quốc, đã thuận thế vô thường ra đi trong trạng thái vãng sanh Tây phương cực
lạc vào lúc 15 giờ ngày 05 tháng 09 năm 2009 nhằm ngày 17 tháng 07 năm Kỹ Sửu với thế thọ 90 tuổi, hạ lạp 14 và xuất gia niên lạp 22. (xin mời xem Dự Tri Thời Chí của Hòa Thượng Thích Như Điển,
báo Viên Giác 176 tháng 04 năm 2010 từ trang 10 đến trang 14, để biết thêm chi tiết).
Xuyên qua những dẫn chứng nêu trên, khi người lâm chung, tu theo Pháp môn Tịnh Độ, đã nhất tâm niệm Phật A Di Đà để cầu vãng sanh Tây phưong Cực
Lạc, thông thường biết thời gian lâm chung, trên trời đôi khi có những hiện tượng đặc biệt xuất hiện như mưa rơi hạt lớn, nắng đẹp bất chợt hoặc có cầu vòng ngũ sắc, đôi khi ban đêm có nhiều chùm
sao giống hoa cái và hương linh thường được quý Chư Phật, Thánh Chúng đến vây quanh đón rước vãng sanh Tây phương cực lạc A Di Đà.
Mặt khác, trong dĩa VCD do Hòa Thượng Thích Trí Quảng, là một danh tăng, đã tốt nghiệp Tiến Sĩ Phật Học tại Đại học Rissho, Tokyo, Nhật Bản năm
1971, thuyết giảng đề tài Khai Thị trong khóa tu Phật thất, kỳ 43 tại chùa Hoằng Pháp, Ngài không khác một giảng sư đại học, không bao giờ xưng Thầy và gọi quý vị Phật tử là Con bao giờ, để giải
thích việc tu tập theo Pháp môn Tịnh Độ rất rõ ràng và tường tận để cho quý vị Phật tử xa gần tham dự trực tiếp khóa tu tập Phật thất hoặc những ai có dịp xem dĩa VCD này sẽ lãnh hội dễ dàng, xin
trân trọng thành kính cảm ơn Ngài đã ban lời thuyết giảng rất hữu ích để học hỏi, đặc biệt Ngài khuyên mọi người tu tập phải nhất tâm niệm Phật để hướng cái tâm của mình đến thế giới Tây phương
Cực Lạc và không nên để cái tâm của mình ở thế giới ta bà này, cho nên, việc niệm Phật để hướng cái tâm, chớ đâu để phô trương cho mọi người cận kề biết, đôi khi làm phiền người khác, mà phải
niệm Phật thật lớn để biểu dương như tôi đã xem dĩa VCD....
Nhân đây, xin thành kính cảm ơn Thượng Tọa THÍCH CHÂN TÍNH, trụ trì Chùa Hoàng Pháp đã tổ chức các khoá tu Phật thất vừa qua, có quý vị tôn túc khắp
nơi vân tập về thuyết giảng các đề tài khác nhau rất giá trị và còn thực hiện các dĩa VCD để phổ biến rộng rãi, nhờ vậy biết được sanh hoạt Chùa Hoàng Pháp và các bài thuyết giảng của Ngài rất
hữu ích, đặc biệt, Ngài có lối thuyết giảng như một giảng sư đại học và lúc nào cũng có nụ cười hoan hỉ đúng lúc.
Để kết thúc bài này xin mượn bài Biết đủ sẽ đủ như sau :
Biết đủ sẽ đủ
Các bình chậu hủ đựng lủ khủ,
Biết dùng chúng nó đời sẽ đủ,
Không tranh đủ thiếu được an ngủ,
Vui sống mọi người trong hoàn vủ.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Tiểu Đệ
HÀN LÂM NGUYỄN PHÚ THỨ
CHIA SẺ PHẬT PHÁP CỦA CƯ SĨ NGUYỄN PHÚ THỨ
Ảnh Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ gặp Giáo sư Nguyễn Trung Quân
CẢM NGHĨ SAU KHI THAM DỰ CÁC ĐẠI HỘI
PHAN THANH GIẢN & ĐOÀN THỊ ĐIỂM
TÌM HIỂU ĐỜI SỐNG AN LẠC
Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ một Học Giả Tài Đức
Việt Cường
Học giả Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ được rất nhiều người biết đến qua những bài viết rất giá trị về các đề tài khác nhau một cách khoa học và trung thực : Phong tục tập quán, Tử vi
đẩu số & Địa lý, Các danh nhân lịch sử Miền Nam Việt Nam, Giáo dục và Ngôn ngữ học…đã được đăng tải trên các trang nhà báo điện tử như: saigonecho.com, vantuyen.net, quanvan.net,
thatsonchaudoc.com, haivannews.com, nguyenhoaivan.com, sontrung.com, khoahoc.net, vietnamexodus.org, honque.net, lyhuong.net, namkyluctinh.org, v.v…cũng như các tạp chí Việt Ngữ Hải Ngoại khắp
nơi : Âu Châu, Canada, Mỹ Châu và Úc Châu, bởi Ông đã bỏ công sức, thời gian và tâm huyết sưu tầm, nghiên cứu thu thập kiến thức kỷ lưỡng từ cổ chí kim thật công phu, đề cống hiến các bài viết có
nội dung đem lại rất hữu ích cho người đọc.
Tiểu sử và sự nghiệp văn chương của Giáo Sư Hàn Lâm
Nguyễn Phú Thứ
Xin quý bạn đọc bấm vào đây để đọc phần 1
Xin quý bạn đọc bấm vào đây để đọc phần 2

Căn cứ theo quyển NGUYỄN PHÚC Tộc Thế Phả đã xuất bản tại Huế (Việt-Nam), phát hành năm 1995: Bà NGUYỄN THỊ LAN còn tên thánh là Marie Thérèse tức
Nam Phương Hoàng Hậu. Bà là con của Long Mỹ Quận Công Nguyễn Hữu Hào, người tỉnh Gò Công. Bà sanh ngày 17 tháng 10 âm lịch năm Giáp Dần nhằm ngày thứ tư 04 tháng 12 dương lịch năm 1914. Năm Ðinh
Mão (1927) bà du học tại Pháp, học tại trường Couvent des Oiseaux ở Paris. Năm Nhâm Thân (1932) bà trở về nước và gặp vua Bảo Ðại trong một chuyến nghỉ mát ở Ðà Lạt. Ngày 6 tháng 2 năm Giáp Tuất
(20-3-1934) bà tấn cung vào ở điện Kiến Trung. Ngày 10 tháng 2 năm Giáp Tuất (24-3-1934) được phong là Nam Phương Hoàng Hậu, lễ tấn phong được cử hành long trọng tại điện Dưỡng Tân.
Năm Kỷ Mão (1939) bà theo vua Bảo Ðại sang Pháp cùng với ba con. Trong chuyến đi này bà cùng vua ghé La Mã và được Ðức Giáo Hoàng đón tiếp. Sau khi
vua Bảo Ðại thoái vị, bà sang sống tại Pháp và ở đấy với các con cho đến lúc mất. Bà sinh được 2 Hoàng Tử và 3 Công Chúa : - Nguyễn Phúc Bảo Long, sinh năm Ất Hợi (1936) được phong Hoàng Thái Tử
vào năm Kỷ Mão (1939), hiện sống tại Pháp. - Nguyễn Phúc Bảo Thắng, sinh năm Quý Mùi (1943). - Nguyễn Phúc Phương Mai, sinh năm Ðinh Sửu (1937). - Nguyễn Phúc Phương Liên, sinh năm Mậu Dần
(1938). - Nguyễn Phúc Phương Dung, sinh năm Tân Tỵ (1942). Ðược biết thêm, Bà Nguyễn Thị Lan con của Ông Nguyễn Hữu Hào, theo đạo Thiên Chúa Giáo từ lâu đời, thuộc thành phần đại điền chủ rất
giàu có danh tiếng và trí thức.
Ông Nguyễn Hữu Hào không những có ruộng đất ở Gò Công thuộc tỉnh Long An (Nam Phần Việt Nam) mà còn nhiều đồn điền trồng Trà và Cà Phê ở Lâm Ðồng,
Ðà Lạt nữa. Bà Nguyễn Thị Lan là cháu Ngoại của Ông Lê Phát Ðạt tức Huyện Sỹ một trong những nhà giàu có nhất Nam Phần, là người đã bỏ tiền ra xây cất nhà thờ rất nguy nga ở cuối đường Võ Tánh
Sàigòn trước kia, thường gọi là nhà thờ Huyện Sĩ mãi đến nay vẫn còn. Ngôi mộ của Ông Ngoại Bà được chôn trong khu vực nhà thờ này.
Năm 1926, Bà Nguyễn Thị Lan, mới 12 tuổi được gia đình cho sang Pháp du học tại trường Couvent des Oiseaux, là một trường nữ danh tiếng dành cho
những gia đình giàu có tại Pháp, để đào tạo nhiều bậc mệnh phụ phu nhân, do các nữ tu điều khiển. Bà là một trong những nữ sinh học giỏi tại trường này, đến năm 1930, Bà được bầu Hoa Hậu khi mới
16 tuổi trăng tròn, nhân dịp hội chợ do trường tổ chức.

Có người kể rằng chính vua Bảo Ðại khi còn du học tại Paris (Pháp Quốc) cũng đến tham dự hội chợ này, nên chứng kiến tận mắt sự thành công và danh
tiếng của Bà. Mùa Hè năm 1932, sau khi đậu tú tài xong, Bà trở về nước bằng chuyến tàu Pháp tên D'Artagnan, của hãng Messagerie Maritime và gặp vua Bảo Ðại cũng hồi loan sau khi hoàn tất việc
học, để tiếp nối vua cha Khải Ðịnh trị vì thiên hạ. Trong một buổi dạ vũ được tổ chức trên tàu, Ông Lê Phát An là cậu của Bà đã từng quen biết vua Bảo Ðại (Hoàng Ðế), nên dẫn Bà đến yết kiến nhà
vua.
Bà đã làm đúng nghi thức triều yết Hoàng Ðế mà Bà đã được nhà trường hướng dẫn từ trước. Bà đã quỳ gối và xưng tên của mình trước khi nói lời chúc
tụng Hoàng Ðế (chi tiết này chính Bà Nam Phương Hoàng Hậu kể lại cho Ông Nguyễn Tiến Lãng).
Hoàng Ðế Bảo Ðại rất cảm động trước tư cách và nhan sắc của Bà. Từ đó, ngài thường tìm dịp nói chuyện với Bà. <<... Trong những năm cuối cùng
của Bảo Ðại ở Pháp, vào lúc đã ở tuổi trưởng thành, họ cho một nữ sinh tên là Marie Thérèse Nguyễn Thị Lan, con một nhà phú hộ theo Thiên Chúa Giáo là Ông Nguyễn Hữu Hào ở Nam Kỳ, đi Pháp du học.
Tất nhiên Cô Marie Thérèse phải là một tiểu thư dù không hoàn toàn sắc nước hương trời thì vẫn có được cái đẹp kiều diễm đài các để có thể làm rung động trái tim của một nhà vua trẻ đang đến tuổi
rạo rực tình yêu đôi lứa. Trong thời kỳ Bảo Ðại còn bận học hành, họ chưa cho đôi trai tài gái sắc gặp nhau mà đợi đến khi Bảo Ðại thấy mình đã trưởng thành và có trách nhiệm với quốc dân thì họ
mới tổ chức cho Marie Thérèse Nguyễn Thị Lan gặp Bảo Ðại. Ban đầu họ cho Cô Lan lân la gần Bảo Ðại mỗi khi Ông đứng một mình trên boong tàu nhìn ngắm sóng nước trùng dương. Cho đến khi hai người
đã vượt khỏi giai đoạn khách sáo thì họ bắt đầu tổ chức cho đôi uyên ương khắng khít nhau hơn trong những buổi dạ hội trên chuyến tàu xuyên đại dương bất tận.Ạ>> Ðây là chứng minh Bà Nguyễn
Thị Lan gặp được vua Bảo Ðại trên tàu, qua hai tác giả đã dẫn thượng, từ đó đưa đến hôn nhân.
Theo Ông Tôn Thất An Cựu viết bài Nam Phương Hoàng Hậu Bà Hoàng Cuối Cùng của triều Nguyễn đã được đăng trong Việt Báo Giai Phẩm Xuân Tân Tỵ 2001
nơi trang 23, tại Nam California Hoa Kỳ, xin trích dẫn như sau : <<... Mãi cho đến gần một năm sau (tức khoảng năm 1933), nhân dịp vua Bảo Ðại nghỉ mát tại Ðà Lạt và do sự sắp đặt của Toàn
Quyền Ðông Dương, viên Ðốc Lý (tức Thị Trưởng sau này) thành phố Ðà Lạt tổ chức một buổi dạ tiệc tại khách sạn Palace (sau gọi khách sạn Lang bian) để tìm cách cho hai người gặp nhau. Tối hôm đó,
trong chiếc áo lụa màu thiên thanh, Nguyễn Thị Lan đã xuất hiện trước Hoàng Ðế Bảo Ðại để rồi chiếm trọn trái tim của một người có địa vị cao nhất nước.>> Trong khi đó, quyển Việt Nam Máu
Lửa Quê Hương Tôi của Hoành Linh Ðỗ Mậu, viết như sau : <<... Chỉ tội nghiệp cho Bà Từ Cung Thái Hậu, vì trong lúc con mình ở nơi đất khách quê người, thì Bà đã lo nghĩ đến tương lai của
dòng họ, đã nghĩ đến việc tìm bạn trăm năm cho con. Tại Huế, Bà đã cho dò xét thân thế, phẩm hạnh, sắc đẹp của bao nhiêu tiểu thư khuê các con những vị đại thần để Bà có lựa chọn một nàng dâu cho
Hoàng Tộc, một Hoàng Hậu tương lai cho nước An Nam.

Bà đã chọn được một nữ sinh con một vị đại quan có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành mà Bà mẹ của tiểu thư đó cũng sùng mộ Ðạo Phật như Bà (tiểu
thư này sau lấy chồng họ Phạm, giáo sư trường Quốc Học Huế). Bà chỉ đợi con mình ngự giá hồi loan chính thức điều khiển việc nước là làm lễ thành hôn cho đôi lứa. Cuộc đời của Bà xuất thân từ nơi
dân giả, phúc đức Cha Ông đẩy đưa Bà được tiến cung làm Hoàng Hậu, nên Bà cố học hỏi cho thành người đài các chốn cung vi, cố trau giồi đức hạnh cho thành người vợ hiền dâu thảo. Nhưng chẳng may
chồng mất sớm. Bà chỉ có một mụn con trai nên Bà thiết tha mong cho con trưởng thành để nối nghiệp vua Cha và nối dõi tông đường. Vì thế, đối với Bà, việc tìm kiếm một nàng dâu đức hạnh mọi bề là
điều quan trọng thiết yếu nhất. Quan trọng vì không phải chỉ thương con mà còn vì danh dự triều đại nhà Nguyễn nữa. Bà không ngờ rằng trong lúc Bà đang sống những giây phút rộn ràng của bất kỳ
một người mẹ nào đang lo chuyện trăm năm cho con, thì người Pháp ở trong những văn phòng của các thế lực giáo quyền và thế quyền, cũng âm thầm thực hiện âm mưu vượt quyền hạn và giết giấc mơ của
Bà để cưới vợ cho Bảo Ðại dựa vào những tiêu chuẩn chính trị của chánh sách bảo hộ lâu dài. Bảo Ðại về nước được thời gian, việc triều đình tạm yên, thì vợ chồng Ông Charles người giám hộ của Bảo
Ðại bắt đầu lo chuyện thành hôn cho Ông. Vào khoảng cuối năm 1933, Ông Bà Charles rủ Bảo Ðại đi Ðà Lạt, tại khách sạn Lang Bian huy hoàng tráng lệ, Bà Charles dẫn tiểu thơ Marie Thérèse Nguyễn
Thị Lan giới thiệu với nhà vua trẻ tuổi trước sự chứng kiến của quan Toàn Quyền Pierre Pasquier. Tất nhiên, khi đã có phù phép của chúa tể thực dân tại Ðông Dương, thì cuộc hôn nhân chính trị
giữa vua Bảo Ðại và Cô Nguyễn Thi Lan nhất định phải thành. Nó phải thành trên nỗi đau khổ cay đắng của Bà Từ Cung, của những vị đại thần trong Tôn Nhân Phủ và của cả Hoàng gia. Ðó là lần đầu
tiên trong lịch sử nước nhà, triều đình Việt Nam có một vị Hoàng Hậu theo Thiên Chúa Giáo qua sự sắp đặt của các thế lực phương Tây. Sau 400 năm, công tác truyền giáo đạt đến cao điểm bằng sự có
mặt của một nữ tín đồ trong chốn thâm cung của triều đình Việt Nam. Và Cô Marie Thérèse từ nay được mang danh hiệu là Nam Phương Hoàng Hậu.>>
Theo giáo sư Nguyễn Lý Tưởng viết trong quyển Thuyền Ai Ðợi Bến Văn Lâu, như sau : Trong cuốn hồi ký Le Dragon d'Anam. Bảo Ðại có nhắc đến cuộc gặp
gỡ đầu tiên với một cô gái người miền Nam, theo đạo Công Giáo, nhân chuyến đi nghỉ mát tại Ðà Lạt vào cuối năm 1932, Ông viết : “ Một biến cố khác lại xảy ra, làm cho cuộc đời tôi có sự thay đổi
quan trọng : Số là khi tôi vừa từ Pháp trở về, đã có tiếng xì xầm trong hoàng cung để tuyển Hoàng Hậu cho tôi. Ðức Thái Hậu, cũng như các vị thượng quan trong triều ai nấy đều có sẵn người của
mình để tiến dẫn. Nhiều lần, tôi đã nhận thấy có sự sóng gió xa xôi, nhưng tôi không để y mấy.
Biết rằng về vấn đề này, việc lựa chọn của Vua chỉ có thể đưa vào đề nghị của triều đình, tôi đợi người ta cho những đề nghị rõ ràng. Ngược lại, như
tôi đã từng nói, tôi đã quyết định là phá tan chế độ đa thê đang thịnh hành ở Việt Nam. Khi đề cử tôi lên làm Ðông Cung Thái Tử, không có gì là khó khăn, vì tôi là con trai độc nhất của cha tôi,
nhưng tôi từng biết, có nhiều tấn bi kịch đẫm máu xảy ra vì chuyện tranh chấp kế vị, nhiều khi có tính cách hèn hạ xấu xa, giữa anh em ruột, hay anh em khác mẹ, mà tôi muốn tránh vết xe đổ ấy.
Hai cụ Charles cũng rất quan tâm đến sự tìm cho tôi một người vợ.
Họ mong rằng vị Hoàng Hậu này phải có một nền học vấn như tôi. Vì vậy, nhân dịp cuối năm, tôi đi nghỉ mát ở Ðà Lạt vài ngày, con gái của quan toàn
quyền Pierre Pasquier cũng nghỉ mát ở đó. Tại đại sảnh đường khách sạn Lang Bian, quan toàn quyền có giới thiệu với tôi một thiếu nữ Việt Nam cùng đi với cụ Bà Charles, cô Marie Thérèse Nguyễn
Hữu Hào, con gái nhà điền chủ Nguyễn Hữu Hào, theo đạo Công Giáo, cô này mới mười tám tuổi, vừa mãn khóa ở Couvent des Oiseaux ở Pháp.
Sau lần gặp gỡ đầu tiên ấy, thường thường chúng tôi gặp lại nhau một cách bất ngờ. Marie Thérèse rất thích thú ngày du học tại Pháp. Cũng như tôi,
có rất yêu âm nhạc và các môn thể thao. Cô có vẻ đẹp yểu điệu của người miền Nam. Trong triều đại của chúng tôi, vì tìm kiếm người vợ cho Vua, hướng nhiều vào con gái miền Nam. Bởi vì, đối với
người Trung hay Bắc Kỳ vẫn được coi như “đất hứa”. sau vài lần trò chuyện, một tình cảm êm dịu đã nẩy nở ra giữa chúng tôi, và chúng tôi hứa hẹn sẽ gặp lại nhau” Trên đây là nguyên văn bản dịch
do Hội Nguyễn Phước Tộc xuất bản Hoa Kỳ, trang 97...
Sau khi cuộc gặp gỡ tại Ðà Lạt đã được Hoàng Ðế Bảo Ðại nhắc đến trong hồi ký của Ngài, xin trích dẫn nơi trang 98 như sau : “ Khi trở về Huế, tôi
có kể lại cho mẫu thân tôi chuyện này, và ý định của tôi. Bà không mấy hoan nghênh, khi biết cô theo đạo Công Giáo và cũng Tây học như tôi. Bà muốn rằng tôi nên lấy được người vợ biết tôn cổ,
biết đạo tam tòng tứ đức. Mặt khác, bà cũng rất quan tâm về vấn đề giáo dục con cái theo đạo Thiên Chúa. Thế nhưng, đây không phải chỉ là vấn đề hoàn toàn tôn giáo, mà là một vấn đề quốc gia. Bởi
vì, nếu trẻ con sinh ra do cuộc hôn nhân này, lại theo đạo Công Giáo, thì nay mai đây, người kế vị lên làm vua, làm sao mà có thể biết phụng thờ tôn miếu, và làm lễ tế Nam Giao? Triều đình cũng
rất bỡ ngỡ. các vị Tứ Trụ triều đình bàn cãi sôi nổi. Lần gặp gỡ về sau, với cô Marie Thérèse, tôi ngỏ ý muốn lấy cô, tôi quyết định bất chấp cái thủ tục cổ lổ kia, và sẽ báo cho triều đình ý
định này ”
Về phía Cô Marie Thérèse (Nguyễn Hữu Thị Lan), cô là người theo đạo Công Giáo. Luật đạo không cho cô lấy chồng là người ngoại đạo nếu không được
phép của Giáo Hội. Ðây là vấn đề tế nhị, cô phải yết kiến Ðức Thánh Cha tại Vatican để xin phép. Và sự chấp thuận của Giáo Hội cũng kín đáo, không phổ biến ra ngoài, đến nỗi nhiều vị Giám Mục,
Linh Mục ở Việt-Nam lúc đó đã cho rằng Nam Phương Hoàng Hậu đã vi phạm luật của Giáo Hội (Theo luật Công Giáo, hai bên nam, nữ phải đến nhà thờ làm lễ thành hôn, nếu khác tôn giáo thì phải có
phép của Giáo Hội, phải thề hứa một vợ, một chồng, các con sinh ra phải theo Công Giáo. Ai không tôn trọng luật đó thì bị “dứt phép thông công”, nghĩa là bị khai trừ ra khỏi Giáo Hội
(excommunication = tuyệt thông) như vua Henri 8 nước Anh và Napoléon nước Pháp).
Vua Bảo Ðại đã cam kết với cô : - Giữ luật một vợ, một chồng - Giải tán tam cung lục viện - Phong cho cô làm Hoàng Hậu - Cô được tự do về tôn giáo.
Nhà Nguyễn từ Gia Long trở về sau, có truyền thống không phong Hoàng Hậu. Ðây là lần đầu tiên, nhà Nguyễn đã phong cho một người làm Hoàng Hậu. Ðám cưới của vua : Trang 99, vua Bảo Ðại đã viết về
đám cưới của Ngài như sau : “ Ngày cưới là ngày 20 tháng 3 năm 1934. Ðám cưới được cử hành trước triều đình và các đại diện của Pháp. Ðó là một vấn đề mới mẻ, vì xưa tới nay chưa bao giờ như
vậy.
Tôi cũng có quyết định tấn phong ngay cho vợ tôi, tước hiệu là Hoàng Hậu, sau khi cưới, điều mà từ xưa, mẫu thân tôi chỉ được phong sau khi phụ
hoàng đã chết. Tôi tấn phong cho vợ tôi là Nam Phương Hoàng Hậu, có nghĩa là “hương thơm của miền Nam”, đồng thời cũng theo một sắc dụ, tôi cho phép Hoàng Hậu được mặc áo màu vàng da cam, vốn chỉ
dành riêng cho hoàng đế” Theo báo chí thời đó cũng như lời thuật lại của những vị cao niên thì triều đình phải cử đại diện vào Long An, quê của Nam Phương Hoàng Hậu để rước dâu. Dọc đường từ
trong Nam ra tới Huế, các địa phương đặt bàn thờ, hương án và quan dân tức trực để đón cho đám rước Hoàng Hậu đi qua. Tiếng pháo chào mừng nổ liên tục từ trong Nam ra tới kinh đô Huế. Trước đây
tôi có được xem ảnh của Nam Phương Hoàng Hậu chụp trong ngày bà được tấn phong Hoàng Hậu, ảnh màu rất đẹp.
Những hình ảnh đó, có lẽ không bao giờ phai mờ trong ký ức của Hoàng Ðế Bảo Ðại. Nhà vua đã kể lại như sau : “Lễ tấn phong được cử hành ngay ở điện
Cần Chánh, là nơi vẫn dùng để thiết đại triều. Trước sân chầu có trải thảm đỏ và vàng, vẫn dùng để Hoàng Ðế bước lên. Các quan triều thần đều tập họp đủ mặt. Hoàng Hậu vận trào phục màu vàng, đầu
đội mũ kết trân châu bảo ngọc, đi hia mũi nhọn, tay cầm hốt ngà, từ từ tiến và vào, qua hai hàng quan triều thần chào đón, để tiến tới trước ngai vàng tôi đang ngồi đợi. Ðây là lần đầu tiên trong
lịch sử nước tôi, một thiếu nữ đã một mình tiến cung như vậy.
Khi đến trước mặt tôi, Hoàng Hậu khấn đầu làm lễ vái ba vái, rồi ngồi sang bên phải tôi, trên chiếc ngai vàng thấp hơn. Lễ tấn phong hoàn tất rất
nhanh chóng. Tôi đưa Hoàng Hậu về điện Kiến Trung và ở đấy với tôi. Ðến chiều, Hoàng Hậu tới triều kiến Ðức Hoàng Thái Hậu. Ðức bà rất hoan hỷ và tiếp đón niềm nở. Một kim sách được lập cho Hoàng
Hậu, và sắc chỉ tấn phong được đem ra niêm yết ở tòa sắc chỉ” Sự kiện Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong Hoàng Hậu ngay sau cưới là một biệt lệ đối với các bà vợ vua thuộc triều Nguyễn. Vì mười
hai đời vua Nguyễn trước kia, các bà vợ Vua chỉ được phong tước Vương phi, đến khi chết mới được truy phong Hoàng Hậu.
Nhắc đến cuộc nhân duyên với Hoàng Hậu Nam Phương, cựu hoàng Bảo Ðại đã ghi lại trong cuốn CON RỒNG VIỆT NAM (đã được tác giả Tôn Thất An Cựu viết
như sau) :“ Sau lần hội đầu tiên ấy, thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp nhau để trao đổi tâm tình. Marie Thérèse thường nhắc đến những kỷ niệm ở trường Couvent des Oiseaux một cách thích thú. Cũng
như tôi, Marie Thérèse rất thích thể thao và âm nhạc. Cô ta có vẻ đẹp dịu dàng của người miền Nam pha một chút Tây phương. Do vậy mà tôi đã chọn từ kép Nam Phương, để đặt danh hiệu cho nàng. Các
vị Tiên Ðế của tôi cũng thường hướng về người đàn bà miền Nam. Nếu tôi nhớ không sai thì trước Hoàng Hậu Nam Phương, có đến bảy phụ nữ miền Nam đã từng là chủ nhân của hoàng thành Huế.
Khi chọn phụ nữ miền Nam làm vợ, hình như các Tiên Ðế và tôi đều nghĩ rằng trước kia đức Thế Tổ Cao Hoàng (tức vua Gia Long) đã được nhân dân miền
Nam yểm trợ trong việc khôi phục giang sơn. Chính đó là sự ràng buộc tình cảm giữa Hoàng triều Huế với người dân miền Nam” Về phần Hoàng Hậu Nam Phương, bà đã nhắc lại “cái thuở ban đầu lưu luyến
ấy” như sau : “ Hôm đó Ông Darle, Ðốc Lý thành phố Ðà Lạt gởi giấy mời cậu Lê Phát An tôi (Lê Phát An là anh ruột bà Nguyễn Hữu Hào) và tôi đến dự dạ tiệc ở Hotel Palace.
Tôi không muốn đi nhưng câu An tôi năn nỉ và hứa với tôi là chỉ đến tham dự một chút và vái chào nhà Vua xong là về nên tôi phải đi một cách miễn
cưỡng và tôi cũng chỉ trang điểm sơ sài thôi. Chúng tôi đến trễ nên buổi tiệc đã bắt đầu từ lâu. Cậu tôi kéo ghế định ngồi ngoài hiên thì Ông Darle trông thấy, Ông ta chạy đến chào chúng tôi rồi
nắm tay cậu tôi kéo chúng tôi vô nhà. Vừa đi Ông vừa nói : “Ông và cô phải đến bái yết Hoàng Thượng mới được”. Khi cánh cửa phòng khách vừa mở, tôi thấy vua Bảo Ðại ngồi trên chiếc ghế bành chính
giữa nhà. Ông Darle bước tới bên cạnh Vua rồi nghiêng ḿnh cúi chào và kính cẩn nói : - Votre Majesté, Monsieur Lê Phát An et sa nièce, Mademoiselle Marie Thérèse. (Tâu Hoàng Thượng, đây là Ông
Lê Phát An và người cháu gái, cô Marie Thérèse).

Nhờ các nữ tu ở trường Couvent des Oiseaux từng chỉ dạy nên tôi biết phải làm gì để tỏ lòng tôn kính đối với bậc Quân Vương, vì vậy tôi đã không
ngần ngại đến trước mặt Hoàng Ðế, quỳ một gối và cúi đầu sát nền nhà cho đến khi thấy bàn tay cậu tôi kéo tôi dậy tôi mới đứng lên. Vua gật đầu chào tôi đúng lúc tiếng nhạc vừa trổi theo nhịp
điệu Tango, Ngài ngỏ lời mời và dìu tôi ra sàn nhảy rồi chúng tôi bắt đầu nói chuyện.
Về sau, khi đã trở thành vợ chồng, Ngài mới cho tôi biết hôm đó Ngài rất chú ý cách phục sức đơn sơ của tôi. Tôi nghĩ rằng tôi được nhà Vua lưu ý
một phần do trong suốt buổi dạ tiệc chỉ có tôi là người đàn bàViệt Nam duy nhất nói tiếng Pháp và theo đúng cung cách lễ nghi Âu Tây đối với Ngài”. Ðược biết Hoàng Hậu Nam Phương đã sống với Vua
Bảo Ðại và sanh được 5 quý tử như đã dẫn, từ khi có các con Bà thường chăm sóc và dạy dỗ cho các con nên người.
Sau khi vua Bảo Ðại thoái vị, bà sang Pháp sống với các con cho đến trút hơi thở cuối cùng tại làng Chabrignac, một vùng quê thuộc miền Bắc nước
Pháp theo như lời thuật lại sau đây : Ngày 14 tháng 9 năm 1963, vào ngày 5 giờ chiều, cựu Hoàng Hậu Nam Phương cảm thấy mệt bèn cho người nhà đi mời bác sĩ đến thăm mạch. Sau khi chẩn khám, bác
sĩ cho biết bà bị viêm họng nhẹ, chi uống thuốc vài hôm là khỏi. Nhưng không dè, bác sĩ vừa rời khỏi nhà chừng vài tiếng đồng hồ thì bà cảm thấy khó thở.
Người nhà bèn nhờ một người bác sĩ khác, nhưng người bác sĩ thứ hai chưa đến kịp thì cựu Hoàng Hậu Nam Phương đã êm ái lìa đời ngay trong đêm đó khi
vừa tròn 49 tuổi. Ngoài hai người giúp việc trong nhà, không có một người ruột thịt nào có mặt bên cạnh bà trong giờ phút lâm chung, vì các con bà đều ở tận Paris để làm việc và đi học. Ðám tang
của bà cựu Hoàng Hậu Việt Nam lưu vong được tổ chức một cách sơ sài lặng lẽ như những năm tháng cuối đời của bà. Hôm đưa đám, ngoài hai Hoàng Tử và ba Công Chúa đi bên cạnh quan tài của mẹ không
có một bà con nào khác.
Về phía quan chức Pháp thì chỉ có Ông quan đầu Tỉnh Brive la Gaillarde và Ông Xã Trưởng Chabrignac. Trong suốt thời gian tang lễ cựu Hoàng Bảo Ðại
cũng không có mặt, mà sau này kẻ viết bài này trong thời gian ở Pháp được nghe kể lại, thì khi hay tin mẹ chết, Công Chúa Phương Liên tức tốc đánh điện tín báo tin cho cựu Hoàng, nhưng gặp lúc
cựu Hoàng vắng nhà vì bận đi chơi xa với Bà Mộng Ðiệp, vì vậy mà cựu Hoàng Bảo Ðại không hay biết gì, nên đã vắng mặt trong ngày đám táng của một người mà có thời đã cùng Ông đầu ấp tay
gối.
Sự kiện đó đã gây sự hiểu lầm khiến về sau các Hoàng Tử và Công Chúa đã ôm lòng oán hận người cha mà họ nghĩ là một người chồng không trọn nghĩa
thủy chung! Trong lần trở lại Pháp vào tháng 4 năm 1999, do đề nghị của một người bạn thường giao thiệp với Hoàng Tử Bảo Long, từ Paris tôi theo người bạn đi về làng Chabrignac, cách Tỉnh Brive
la Gaillarde ba mươi cây số để viếng mộ Hoàng Hậu Nam Phương.
Gió chiều nghĩa trang lồng lộng thổi, trước mắt tôi là một ngôi mộ đơn sơ với tấm bia đá hai mặt ghi hai hàng chữ tiếng khác nhau, mặt trước viết
chữ Hán, mặt sau viết chữ Pháp như dưới đây: Bìa chữ Hán : Ðại Nam Nam Phương Hoàng Hậu Chi Mộ, có nghĩa là : “Mộ phần của Bà Hoàng Hậu nước Việt Nam”Bìa chữ Pháp : ICI REPOSE l'impératrice
d'Anam Née Marie Thérèse Nguyen Huu Thi Lan, có nghĩa là : “Ðây là nơi an nghĩ của Bà Hoàng Hậu Việt Nam tên là Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan”... v.v.
Ngoài ra, tôi đã được học giả Hương Giang Thái Văn Kiểm đề tặng quyển Việt Nam Anh Hoa vào dịp lễ Quốc Khánh Pháp, ngày 14 tháng 7 năm 2001 vừa qua,
do Làng Văn ấn hành, trong đó có bài viết Vua Hàm nghi và Nam Phương Hoàng Hậu, bài này có liên quan từ bịnh cho đến từ trần của cựu Nam Phương Hoàng Hậu, xin trích dẫn để quý bà con đồng hương
tường lãm như sau : ”...
Kế cận lâu đài này có một nông trại khác mang tên”Domaine de la Perche” do Hoàng Hậu Nam Phương mua với tài chánh riêng Bà, vốn giàu có từ trước.
Nông trại này không có lâu đài, nhưng chỉ có một ngôi nhà dài khá lớn, hơn 30 phòng, chung quanh là vườn Nho và cây ăn trái như Cam Lê và Táo, xen kẻ với vườn hoa đủ màu thi nhau nẩy nở. Bà Nam
Phương đã cho mua cơ sở xinh đẹp này từ năm 1958. Lúc Bà Bá Tước Như Lý de la Besse hay tin này, Bà ấy làm ngạc nhiên, nhưng không hỏi hoặc thăm viếng Bà Nam Phương, có lẽ vì một bà thuộc giòng
Vua cách mạng, một bà thì thuộc giòng Vua thân Pháp. Tuy gần nhà mà xa cửa ngõ, suốt 5 năm trời hai Bà không hề gặp nhau.
Mãi cho tới năm 1963 Bà Nam Phương lâm bệnh nặng vì một cơn nghẹt thở (diphtérie) rất ngặt nghèo, khiến Bà phải trút linh hồn tại nhà bà trong nông
trại La Perche (Cá Mang Giổ), nhằm ngày 14 tháng 9 năm 1963, lúc Bà mới có 49 tuổi! Vua Bảo Ðại và các Hoàng Tử Bảo Long, Bảo Thăng, các Công Chúa Phương Mai, Phương Liên và Phương Dung, các quan
chức địa phương đều có mặt. Và đặc biệt nhất là lần này bà Như Lý (con Vua Hàm Nghi) là láng giềng, cũng sang dự đám tang. Lễ được long trọng cử hành tại nhà thờ Chabrignac. Xong lễ, quan tài
được đưa ra nghĩa địa gần bên mai táng, dưới tấm bia cẩm thạch khắc phương danh : Ici repose l'Impératrice d'Anam, née Jeanne- Mariette Nguyễn Hữu Hào (4-12-1914 - 15-9-1963)
Tên thông thường của bà Nam Phương là Nguyễn Thị Lan. Mùa Thu năm ấy (1993) hoa rơi lá rụng đầy đường như nhớ thương người tài hoa bạc mệnh, khách
viễn du từ Paris xuất hành trong cảnh vật đổi sao dời theo chim ô thước Nam Phi, đã tìm về nơi đồng quê nước Pháp, chen lẫn với núi rừng, hang động âm u, khắc họa hình hài người và vật thời tiền
sử Lascaux, ẩn giấu biết bao di tích của tiền nhân, cùng với tinh hoa của giống nòi Lạc Việt lạc bước nơi Tây Phương, mà chưa tìm ra lối về quê hương trăm thương ngàn nhớ !
Trong lúc viếng thăm mộ địa của người xưa đã in dấu tích đậm đà trong lịch sử Việt Nam, khách viễn du ngậm ngùi hướng tâm tư về những người đã âm
thầm tạo nên lịch sử ấy, đồng thời cảm xúc ghi lại hai câu thơ than vắn thở dài của Tùng Thiện Vương và nữ sĩ Tương Phố : Tóc bạc gấm mây sầu xã tắc, Nước loạn canh tàn khóc bể dâu!
Trích dẫn hai tài liệu trên đây, nhằm để quý bà con biết được cựu Hoàng Hậu Nam Phương, thọ 49 tuổi, sau khi bị bịnh ngặt nghèo bất thần rồi từ trần
ngày 14 tháng 9 năm 1963 tại nhà ở nông trại La Perche, thuộc Xã Chabrignac, Tỉnh Brive la Gaillarde và được mai táng ngày hôm sau tức 15 tháng 9 năm 1963. Trở lại, mối tình vương giả của Vua Bảo
Ðại với Hoàng Hậu Nam Phương, tôi đã đọc được bài viết của Ông Nguyễn Nam Phổ, đăng trong nội san Thu Ðông tháng 11 năm 1999 do Hội Ái Hữu Trung Học Trương Vĩnh Ký Paris phát hành, xin trích dẫn
từ trang 30 đến trang 32 như sau :
Tài liệu 1 : Năm 1932, sau khi du học tại Pháp, Hoàng Ðế Bảo Ðại hồi loan chấp chánh, có một thiếu nữ con nhà khuê các đồng hành trên chuyến tàu
d'Artagnan. Ðó là, cô Mariette Jeanne Nguyễn Thị Hữu Lan, ái nữ Ông Pierre Nguyễn Hữu Hào và là cháu ngoại Ông Huyện Sĩ, kêu Ông Lê Phát An bằng cậu ruột. Cô LAN học trường Couvent des Oiseaux
bên Pháp, vừa đậu tú tài toàn phần về thăm quê hương nhân dịp nghỉ hè. Có người cho biết, chính cựu Khâm Sứ Trung Kỳ CHARLES cha đở đầu của Hoàng Ðế Bảo Ðại đã sắp xếp để Cô LAN đi cùng chuyến
tàu với nhà vua.
Khâm Sứ CHARLES là bạn thân lâu đời của gia đình Pierre Nguyễn Hữu Hào. Sau một tháng lênh đênh trên biển cả, tàu d'Artagnan cặp bến Vũng Tàu (Cap
St Jacques). Cô LAN được đại gia đình xuống đón, riêng Hoàng Ðế Bảo Ðại thì sang chiến hạm Dumont D'Urville để ra Ðà Nẵng (Tourane).
Một tháng sau, Ông Bà Khâm Sứ CHARLES đưa Hoàng Ðế Bảo Ðại lên Ðà Lạt dự tiệc để gặp cô gái xinh đẹp và quí phái. Tài Liệu 2 : Mùa hè năm 1932, sau
khi đổ tú tài toàn phần, Cô Nguyễn Thị Lan ái nữ của Ông Nguyễn Hữu Hào, bên Pháp về nghỉ hè. Dịp này, Ông Lê Phát An sắp xếp với Toàn quyền P.Pasquier để vua Bảo Ðại và cô Lan gặp nhau trong dạ
tiệc do Khâm Sứ Trung Kỳ khoản đãi. Khách quý gồm Hoàng Ðế Bảo Ðại vừa hồi loan cùng hàng trăm tiêu thơ khuê các con gái của các quan đại thần trong triều đình, tìm cách ra mắt để được tiến
cử.
Cô Nguyễn Thị Hữu Lan cùng cậu là Ông Lê Phát An tới khách sạn rất sớm, Cô Lan ngồi chơi trên bãi cỏ trước khách sạn. Khi Hoàng Đế Bảo Đại và đoàn
tùy tùng đi ngang, Cô Lan đứng dậy chào theo phép xã giao tây phương. Sững sờ trước vẻ đẹp quí phái và dáng dấp thanh lịch của cô gái, Hoàng Ðế Bảo Ðại dừng lại hỏi chuyện. Sau đó hai người tiếp
tục trò chuyện suốt buổi dạ tiệc, cùng nhau khiêu vũ và mối tình nẩy nở từ đó.
Xin lưu ý : Ngày xưa triều Nguyễn không đi hỏi và cưới vợ, chỉ có con gái của các vị đại thần tiến cử mà thôi. Vì vua là thiên tử không quỳ lại một
ai. Cuộc hôn nhân giữa Hoàng Ðế Bảo Ðại và Cô Nguyễn Thị Hữu Lan lúc đầu gặp trở ngại vì hoàng tộc, nhứt là Ðức Từ Cung, Hoàng mẫu của Hoàng Ðế không tán thành. Lý do phản đối là vì Cô Lan có đạo
Thiên Chúa, sợ rằng khi trở thành Hoàng Hậu sẽ không chịu thờ phụng các tiên đế.
Cuối cùng vụ này cũng được giải quyết thỏa mãn. Ðức Giáo Hoàng chấp thuận cho Cô Lan kết hôn với Hoàng Ðế Bảo Ðại một người khác tôn giáo. Ai giữ
đạo nấy, nhưng các con sinh ra phải được rửa tội. Sau hôn lễ, Hoàng Ðế Bảo Ðại phong cho Ông Lê Phát An tước An Ðịnh Vương và nhạc phụ Ông Pierre Nguyễn Hữu Hào tước Long Mỹ Quận Công. Ðây là lần
cuối cùng của nhà Nguyễn phong cho một người xuất thân từ hàng dân giả.
Xin lưu ý : Kể từ vua Minh Mạng về sau, chức tước Hoàng Hậu bị bãi bỏ, vì sợ tiếm ngôi nên vua Minh Mạng đặt ra “ngũ bất lập” là : 1.- Bất lập Hoàng
Hậu. 2.- Bất lập Ðông Cung. 3.- Bất lập Tể Tướng. 4.- Bất phong Vương Tước. 5.- Bất tuyển Trạng Nguyên. Từ đó, cấp bậc các bà vợ vua được chia làm “cửu giai” cũng như các cấp bậc của ngạch quan
lại được chia làm “cửu phẩm”.
Người đứng đầu trong cửu giai là Hoàng Quý Phi, đến đời vua Bảo Ðại mới lập lại chức vị Hoàng Hậu tức là “Nam Phương Hoàng Hậu”. Phương ngữ này,
trong Nam Việt Nam thường nghe các cụ bô lảo hay nói những nhà giàu có bậc nhứt, nhì, ba, tư : 1.- Huyện Sĩ, 2.- Tổng Ðốc Phương, 3.- Bá hộ Xường tức là Lý Thành Nguyên, 4.- Vua Khải Ðịnh. Nói
tắc lại : Nhứt Sĩ, nhì Phương, tam Xuờng, tứ Ðịnh (không biết có phải như vậy không? Quý vị nào biết rõ hơn, xin vui lòng bổ túc cho được đầy đủ)...
Hoàng Ðế Bảo Ðại là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, do ảnh hưởng của đời sống và văn hóa tây phương, đã thay đổi hẳn cách ăn uống cũng như nghi
lễ phức tạp cổ truyền và không khí gia đình trong bửa ăn được đặc biệt chú ý. Nhà vua cũng ngồi ăn chung với Hoàng Hậu Nam Phương và các Hoàng Tử cùng Công Chúa. Ðây quả thật là một cuộc canh tân
lớn chưa từng có trong hoàng tộc các vua chúa đời xưa... Như chúng ta đã biết, trong quyển Con Rồng Việt Nam của Vua Bảo Ðại, do Ông Tôn Thất An Cựu viết, mà tôi đã trích dẫn ở trước
”...
Nếu tôi nhớ không sai thì trước Hoàng Hậu Nam Phương, có đến bảy phụ nữ miền Nam đã từng là chủ nhân của Hoàng thành Huế ...” Ðể hiểu biết thêm tận
tường những phụ nữ miền Nam được tiến cung, xin trích dẫn từ trang 30 đến trang 31, bài viết của Ông Nguyễn Nam Phổ được đăng trong Nội San Xuân 2001 của Hội Ái Hữu Trung Học Trương Vĩnh Ký Paris
phát hành như sau : Tám Vị Phụ Nữ Miền Nam Việt Nam Trong Cung Ðình Huế Sau khi bị quân Tây Sơn truy đuổi, Thái Tử Nguyễn Ánh phải bôn tẩu ra Phú Quốc chiêu binh mãi mã với ý chí phục
quốc.
Nhờ những di dân gốc miền Trung trước kia theo chân các Chúa Nguyễn vào Nam, khai khẩn đất hoang lập làng lập ấp, hưởng ứng lời kêu gọi, nên chẳng
bao lâu Thái Tử Nguyễn Ánh tập hợp được lực lượng khá hùng mạnh, để từ đó cho đến 25 năm sau đánh chiếm Quy Nhơn, rồi Thuận Hóa, thống nhứt sơn hà và tức vị lên ngôi Hoàng Ðế năm 1802. Là một
nhân vật đa tài văn võ kiêm toàn, nhưng cũng rất đa tình, vị Vua sáng lập triều NGuyễn có hai mươi mốt bà vợ, nhưng có một điều rất lạ là một người tài hoa lỗi lạc và đam mê như Thái Tử Nguyễn
Ánh mà suốt 25 năm lặn lội ở miền Nam, gần gũi các cận thần người Nam như các Ông : Nguyễn Huỳnh Ðức, Lê Quang Ðịnh, Phạm Ðăng Hưng ... v.v.
Ngài lại không có mối tình nào gắn bó ở miền Nam, nơi đã cưu mang mình và cũng chính nhờ đất và người miền Nam, Ngài đã thành công viên mãn và dựng
nên cơ nghiệp lớn lao. Trái lại, hậu duệ của Ngài là vua MINH Mạng ở tại miền Trung, trong khi đã có nhiều bà vợ lại có bốn phụ nữ miền Nam được tiến cung để hầu hạ mình rồng là các bà : 1.- Tả
Thiên Nhân Hoàng Hậu Hồ Thị Hoa (1791 - 1801), người Huyện Bình An, Tỉnh Biên Hòa. Con gái của Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi. Vì tên Bà là Hoa, cho nên những gì có chữ HOA đều phải nói trại ra. Chẳng
hạn cầu HOA ở Gia Ðịnh phải gọi là cầu BÔNG. Cửa Ðông Hoa ở Huế phải gọi là cửa Ðông Ba. Tuồng hát bội Phàn Lê Hoa phải đổi thành Phàn Lê Huê ... v.v
Bà Hoàng Hậu này không có con. 2.- Thục Tấn Nguyễn Thị Bảo (1801 -1851), người Gia Ðịnh. Con của Ông Quan Tư Không Nguyễn Khắc Thiệu. Bà sinh hạ
được một Hoàng Tử là Miên Thẩm (1818-1904) và ba Công Chúa là Vĩnh Trinh (1816-1892), Trinh Tân (1824-1904) và Tỉnh Hòa (1830-1882). Về sau cả bốn người con này đều trở thành những nhà thơ nổi
tiếng ở thần kinh với các biệt hiệu : Tùng Thiện Vương, Quy Ðức, Mai Am và Huệ Phố, đã để lại cho đời nhiều bài thơ rất giá trị. 3.- Hoà Tấn Nguyễn Thị Khuê tự Bích Chi, người Huyện Phú Lộc, Tỉnh
Gia Ðịnh; Con gái quan Chưởng Cơ Nguyễn Văn Thanh, trấn thủ Tỉnh Quảng Nam. Bà sinh được bốn Hoàng Tử và sáu Công Chúa.
4.- Cung Tần Nguyễn Thị Xuân, người Gia Ðịnh. Con gái Chinh Ðội Nguyễn Văn Châu. Bà sinh được một Hoàng Tử là Miên Ký, người giỏi văn chương dưới
triều Tự Ðức, được phong tước Cẩm Quốc Công Hậu duệ vua Minh Mạng là vua Thiệu Trị có ba bà vợ người miền Nam là : 1.- Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (1810-1901) tức là Bà Phạm Thị Hằng tự Nguyệt (theo
Việt Nam Tự Ðiển của Lê Văn Ðức viết Phạm Thị Hàng tự Hào), người Huyện Tân Hòa, Tỉnh Gò Công. Con quan Lễ Bộ Thượng Thơ Phạm Ðăng Hưng. Bà là người hiền thục, đoan trang nên được Thuận Thiên Cao
Hoàng Hậu tuyển vào cung làm vợ cho Hoàng Tử Miêng Tông tức vua Thiệu Trị sau này. Bà sinh được hai Công Chúa và một Hoàng Tử là Hồng Nhậm tức vua Tự Ðức sau này. Bà sống qua 10 đời vua, kể từ
Gia Long là thời gian Bà chào đời cho đến lúc băng hà năm 1901 đời vua Thành Thái năm thứ 13.
Một Bà Hoàng đã chứng kiến nhiều sự việc lịch sử xảy ra trong cung đình cũng như trên đất nước. 2.- Lệnh Phi Nguyễn Thị Nhâm, người An Giang. Con
của Quận Công Nguyễn Văn Nhân. Bà Nhâm được tuyển vào cung cùng một thời gian với Bà Phạm Thị Hằng, nhưng vì Bà chỉ sinh hạ một Hoàng Nữ là An-Thạnh Công Chúa, nên chỉ đưọc phong tước Lệnh Phi.
3.- Ðức Tần Nguyễn Thị Huyền, người miền Nam nhưng gốc Thừa Thiên. Con của Cai Cơ Nguyễn Ðức Xuyên.
Bà sinh được một Hoàng Tử là Hồng Diêu (1845-1875) là Hoàng Tử thứ 25 của vua Thiệu Trị. Hậu duệ vua Thiệu Trị là vua Tự Ðức có một Bà vợ miền Nam
là Học Phi Nguyễn Thị Hương, người Vĩnh Long. Bà không có sinh được con nên nhận công tử Ưng Hạo tự Ðăng, sinh năm 1870, con Mệ Hường Cai làm con nuôi. Sau khi vua Tự Ðức băng hà , Ưng Hạo được
tôn làm vua tức vua Kiến Phúc.
Người phụ nữ miền Nam sau cùng vào cung đình Huế là Bà Nguyễn Hữu Thị Lan (1941-1963), người Gò Công. Con của đại điền chủ Nguyễn Hữu Hào. Bà là
Hoàng Hậu sau cùng triều Nguyễn... Tám vị phụ nữ miền Nam trong cung đình triều Nguyễn, như đã kể trên đây, thì Bà Từ Dũ được sử sách nhắc nhở đến nhiều nhất, vì Bà là người có nhiều ảnh hưởng
đối với các vua : Thiệu Trị, Tự Ðức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi.
Trong số các phi tần, Bà được Hoàng Tử Miên Tông khi lên ngôi vua, phong làm Chánh Phi và được phép ngồi phía sau bức màn nghe những lời vua bàn bạc
với các Quan Ðại Thần. Ngoài việc giúp vua về chánh trị, Bà còn trông nom sắp đặt mọi việc trong cung với tư cách một nữ quan cao cấp. Bà rất nhân từ với các phi tần dưới quyền, không bao giờ
ganh tỵ hay đố kỵ và thương yêu con của các phi tần khác như chính con của Bà, nên vua Thiệu Trị thường ban lời khen ngợi.
Theo sách “Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện” thì trước khi băng hà, vua Thiệu Trị đã nói với các đại thần : Quí Phi là nguyên phối của Trẫm, công,
dung, ngôn, hạnh rất mực đoan trang, phước đức hiển minh, sau này con cháu ắt hưởng phúc dài lâu, lại tận tụy giúp Trẫm trong bảy năm cầm quyền. Ý trẫm muốn sắc lập Hoàng Hậu cho chính vị trong
cung, nhưng tiếc thay chưa kịp. Vì vậy, năm 1848 vua Tự Ðức làm lễ tấn tôn Bà là HoàngThái Hậu.
Bà Từ Dũ Hoàng Thái Hậu mất ngày mùng năm, tháng tư năm Tân Sửu (1901), năm Thành Thái thú 13, thọ 93 tuổi. Bà được an táng bên phải lăng vua Thiệu
Trị (Bệnh viện sản khoa ở đường Cống Quỳnh Sàigòn được đặt tên Từ Dũ là để ghi nhớ công đức của Hoàng Thái Hậu Từ Dũ Ðúng ra tên hiệu của Bà là Từ Dụ, theo nghĩa chữ Hán là Nhân từ và Ðộ lượng.
Nhưng về sau, không hiểu do một sự lầm lẫn nào đó, người ta viết chũ Dụ thành Dũ và trở thành thói quen không thay đổi ?).
Ðể hiểu thêm cuộc đời của Bà Nam Phương Hoàng Hậu, chúng ta đã thấy Bà sanh ngày 17 tháng 10 âm lịch, năm Giáp Dần, nhằm ngày thứ sáu, 4 tháng 12
dương lịch năm 1914 và Bà từ trần lúc giờ Dậu, ngày 27 tháng 7 âm lịch, năm Quý Mão, nhằm ngày thứ bảy, 14 tháng 9 dương lịch năm 1963 khoảng 5 giờ chiều. Căn cứ tổng quát dành cho những người có
năm sanh 1914 Giáp Dần như Bà, có hành thuộc Ðại Khê Thủy tức mạng Thủy và theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành, tuổi Giáp Dần, có Can tức Trời là Giáp thuộc hành Mộc và có Chi tức Ðất là
Dần cũng thuộc hành Mộc.
Do vậy, người có tuổi Giáp Dần như Bà, có cùng hành Mộc, xem như Trời và Ðất tương hòa, tương đắc với nhau, cho nên những người có tuổi Giáp Dần
thuộc phái Nam rất vững vàng cho sự sống của cuộc đời, bởi vì tuổi Giáp Dần này thuộc Dương. Trái lại, những người có tuổi Giáp Dần thuộc phái Nữ như Bà, thì không thuận hạp như phái Nam, từ đó
cuộc đời của những người phái Nữ không được ổn định như ý. Về màu sắc thì người tuổi Giáp Dần nên dùng là màu Vàng chen lẫn màu Ðỏ.
Trái lại, màu xanh lá cây rất khắc kỵ. Vì thế, cuộc đời của Bà khi sống trong Hoàng Thành Huế với Vua Bảo Ðại rất thuận hạp vương lên, bởi vì trong
cung điện thường dùng đa phần dùng màu Vàng và màu Ðỏ. Khi Bà sang Pháp, Bà lập nông trại để trồng các loại trái cây đủ loại và nhiều hoa kiểng rất đẹp. Nhưng khổ thay! xung quanh Bà rất nhiều
màu xanh lá cây, là màu độc hại khắc kỵ với tuổi Giáp Dần của Bà.
Ngoài ra, Bà lập gia đình với Vua Bảo Ðại, sanh năm 1913 Quý Sửu, có hành thuộc Tang Ðố Mộc tức mạng Mộc và căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ
của Ngũ Hành, thì Bà tuổi Giáp Dần sanh năm 1914 kết hợp với tuổi Quý Sửu sanh năm 1913, thì được tương sanh rất tốt cho đôi vợ chồng, vì không bị khắc kỵ. Nhưng khổ thay! Người tuổi có mạng Thủy
sanh người tuổi có mạng Mộc. Vì, mạng Thủy bị sanh xuất và mạng Mộc được sanh nhập. Vì thế, tuổi của Bà không được tốt, mà chỉ làm lợi cho Vua Bảo Ðại, để rồi Bà không thể chống lại số mạng, một
đời tài hoa trọn vẹn thủy chung với chồng, nhưng bạc mệnh của Bà.
Ðó là, tuổi tổng quát dành cho những người có tuổi Giáp Dần như Bà Nam Phương Hoàng Hậu. Xuyên qua những dẫn chứng vừa qua, để tạm kết thúc bài này,
có thể tóm lược như sau : Bà Nam Phương Hoàng Hậu có tên thánh Marie Thérèse, họ Nguyễn, húy danh Thị Lan, con nhà Nguyễn Hữu, thân phụ của Bà là Long Mỹ Quận Công Nguyễn Hữu Hào. Bà sanh ngày 17
tháng 10 âm lịch, năm Giáp Dần, nhằm ngày thứ sáu, 4 tháng 12 dương lịch năm 1914, quê quán Gò Công thuộc Tỉnh Long An, miền Nam Việt-Nam. Năm Ðinh Mão (1927)
Bà sang Pháp khi được 13 tuổi (có báo viết năm 1926 Bà sang Pháp khi được 12 tuổi, không biết hư thật thế nào?), để học tại trường Couvent des
Oiseaux ở Paris. Mùa Hè năm Nhâm Thân (1932) sau khi đậu tú tài, Bà trở về nước, có người cho biết, chính cựu Khâm Sứ Trung Kỳ CHARLES cha đở đầu của Hoàng Ðế Bảo Ðại đã sắp xếp để đi cùng chuyến
tàu với vua Bảo Ðại. Khâm Sứ CHARLES là bạn thân lâu đời của gia đình Pierre Nguyễn Hữu Hào. Sau đó, gặp vua Bảo Ðại trong chuyến nghỉ mát ở Ðà Lạt. Ngày 6 tháng 2 năm Giáp Tuất (20-3-1934) bà
tấn cung vào ở điện Kiến Trung, (có sách viết ở điện Cần Chánh, không biết hư thật thế nào?).
Ngày 10 tháng 2 năm Giáp Tuất (24-3-1934) được phong là Nam Phương Hoàng Hậu, có nghĩa là “hương thơm của miền Nam”, lễ tấn phong được cử hành long
trọng tại điện Dưỡng Tân. Bà sinh được 2 Hoàng Tử và 3 Công Chúa : - Nguyễn Phúc Bảo Long, sinh năm Ất Hợi (1936) được phong Hoàng Thái Tử vào năm Kỷ Mão (1939), hiện sống tại Pháp.